ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN

 
BẢO VỆ AN NINH CÁ NHÂN – CÔNG VIỆC QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU

Trần Quốc Hoàn

Sau khi gửi hai bài viết tố cáo những tội lỗi của các cơ quan an ninh Quân đội và Công an cộng sản(1) đến các cơ quan đài báo, mặc dù những vụ việc đó còn nhỏ hơn hạt cát trong một đại dương đầy tội lỗi của cộng sản, song người viết hiểu rằng nội dung bài viết sẽ làm cho các bộ phận kĩ thuật, nghiệp vụ của họ lại phải một phen bận rộn, vất vả. Rồi lại nhận được rất nhiều thư độc giả trao đổi, khích lệ và cả lo lắng cho sự an toàn của người viết. Xin trích một câu trong số những thư của bạn đọc: “ Nhưng xin ông cũng phải cẩn trọng, bởi vì ông hiểu rõ hơn ai hết rằng bộ máy an ninh đồ sộ và tàn ác cũng đọc được những bài này, và chắc chắn sẽ muốn “thịt” được ông cho hả giận” (tam thuong – Ottawa – Canada) .

Vâng, người viết cũng đã tiên liệu được trước mọi sự nguy hiểm và những biện pháp nghiệp vụ mà cơ quan an ninh có thể tiến hành. Tuy nhiên, cái sự cẩn thận thì không bao giờ thừa, và cái sự cẩn thận đó cũng rất cần thiết phải phổ biến rộng rãi, bởi vì trong giai đoạn này nó chính là phương tiện tự bảo vệ mình của các cá nhân và tổ chức đang phải dấn thân đối đầu với chính quyền cộng sản, cơ quan an ninh cộng sản. Chính từ suy nghĩ đó, người viết xin gửi đến quí thính giả và độc giả bài viết thứ ba của mình với một ý nghĩa, mục đích khác, đấy chính là việc bảo đảm an ninh cá nhân, cảnh giác đối phó với các thủ đoạn của cơ quan an ninh cộng sản.

Trước hết, muốn tìm ra biện pháp bảo đảm an toàn cho mình thì lại cần phải tìm hiểu sơ qua một số công tác nghiệp vụ của các cơ quan an ninh.

Công việc hàng ngày của các bộ phận an ninh nghiệp vụ (cả công an và quốc phòng) là phải thu thập và xem xét tất cả các thông tin có liên quan chống đối nhà nước cộng sản, xử lí các thông tin đó. Tất nhiên, tất cả các bài viết trên các trang báo ở hải ngoại, các đài phát thanh quốc tế mà họ cho là “đài địch” đều được họ nghiên cứu rất kĩ, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nào. Đặc biệt là những tài liệu mật của nhà nước cộng sản bị tiết lộ, hoặc những bài viết có nội dung thông tin những chi tiết bí mật mà họ cần giấu kín, những thông tin chống đối nhà nước có tính chất nguy hiểm, lực lượng an ninh sẽ phải phân tích thật cẩn thận, từng chi tiết.

Với mục đích quan trọng nhất là phải tìm ra tác giả của những thông tin đó, nếu không thì cũng phải phán đoán ra nhóm đối tượng để tìm cách giăng bẫy, hoặc ngăn ngừa. Cần biết một thực tế là không phải các độc giả hay các tổ chức đối lập là những người đọc những bài viết đó nhiều nhất, mà chính là những bộ phận kĩ thuật nghiệp vụ của cơ quan an ninh mới là nơi quan tâm nhiều nhất. Họ lật đi, lật lại từng trang viết, từng đoạn văn, từng câu chữ, để thu thập các cứ liệu, tỉ như: phải tìm hiểu xem tác giả thật sự là ai, lai lịch ra sao? đàn ông hay đàn bà? độ tuổi bao nhiêu? văn phong, thổ ngữ của người ở vùng nào? miền Nam, hay miền Bắc, hay miền Trung? Bắc di cư hay Nam tập kết? Trình độ của người viết? Họ xem kĩ từng chi tiết, cách đánh dấu chấm, phảy, chấm than, chấm hỏi, ngoặc đơn, ngoặc kép. Thói quen trong cách ngắt câu, xuống dòng. Thói quen sử dụng Font chữ gì, cỡ chữ bao nhiêu, cách dàn trang như thế nào, cách đánh dấu chữ Việt kiểu nào, thói quen đánh chữ hoa, chữ nghiêng, chữ in đậm ...? Những lỗi ngữ pháp, chính tả hay gặp, thậm chí cả những bài viết quá tròn trịa, cẩn thận cũng là những đặc điểm để phán đoán ra đối tượng. Họ tìm hiểu nội dung bài viết, những thông tin của bài viết để tìm ra vị trí của người viết, sự chính xác của những thông tin ấy, mục đích tác giả muốn gì, nhắm tới ai? Mức độ nguy hiểm và tác hại của bài viết ra sao? ... Rồi tìm địa chỉ E-mail, tìm ra Password, tìm IP, tìm ra xuất xứ nơi gửi tin, bài, tìm ra thời gian gửi đi, lần tìm ra các mối liên hệ ....

Tất nhiên, tác giả càng có nhiều bài viết được đăng tải (dù là sử dụng các bút danh khác nhau) thì sẽ lại càng có nhiều chi tiết, manh mối để cơ quan an ninh lần tìm ra. Cơ quan an ninh sắp xếp các chi tiết thu nhận được như những nhà khoa học sắp xếp các chuỗi ADN, từ từ họ sẽ sàng lọc, khoanh vùng đối tượng và càng nhiều chi tiết được tìm ra thì cái phạm vi được khoanh vùng sẽ càng bị thu hẹp lại cho đến khi tìm ra đối tượng. Đây là nhiệm vụ và công việc hàng ngày của các cơ quan kĩ thuật nghiệp vụ trong an ninh Công an và Quân đội.

Thật ra, người viết cũng không lạ lẫm gì các công việc này, tuy nhiên những điều đó là một mối nguy hiểm đối với những người đang hoạt động đấu tranh với chế độ cộng sản. Tất nhiên là đe dọa trực tiếp đến những người đang phải sống trong vòng kềm tỏa của họ, còn những người hoạt động ở hải ngoại thì điều này lại bị ảnh hưởng ở góc độ khác, đấy chính là: phá vỡ các mối liên hệ, làm phong trào đấu tranh không phát triển được, chặn bắt và ngăn ngừa các lực lượng đối lập.

Các bộ phận nghiệp vụ trinh sát thì có thể nói rằng: dày đặc và chồng chéo. Ở bên Công an và Quốc phòng, nghành nào cũng có cơ quan tình báo, phản gián, cả ở trong nước và hải ngoại. Rồi còn tình báo của Biên phòng và sắp tới đây cả Hải quan cũng sẽ có cơ quan tình báo. Lực lượng mật vụ này chồng chéo, dẫm chân lên nhau trong các tổ chức chính quyền, kinh tế, xã hội, không trừ một cơ quan nào. Đặc biệt là quân báo, kéo dài cả một quá trình mấy chục năm, nhân viên cơ quan tình báo quân đội đã được cài đặt vào sâu trong các cơ quan chính quyền, đoàn thể và cơ quan kinh tế quan trọng.

Tất cả các cơ quan Bộ và ngang Bộ ở Trung ương, tất cả các cơ quan Ủy ban hành chính ở các địa phương đều có đặc tình của Tổng cục II. Các cơ quan đoàn thể như Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đến cả Hội phụ nữ cũng đều có người của Tổng cục II. Các cơ quan kinh tế quan trọng như các Tổng công ty Dầu khí, Du lịch, Điện lực, Bưu chính viễn thông, Ngân hàng, nhân viên an ninh nhiều nhan nhản (phải dùng từ này mới chỉ đúng thực tế).

Cần phải nói rõ là, người ta vẫn biết quá ít những thông tin về cơ quan an ninh của cộng sản mà đặc biệt là Tổng cục II, kể cả các cán bộ cấp rất cao, từ đó có những đánh giá, phân tích và quan điểm thiếu chính xác, còn coi thường, nương nhẹ. Nên nhớ rằng, các nhân viên của Tổng cục II hiện tại đều đã nắm một vị trí Thứ trưởng hoặc tương đương thứ trưởng ở hầu hết các Bộ ngành. Trong các Tổng công ty lớn Nhà nước thì họ đều có một nhân vật ngồi ghế Phó tổng giám đốc hoặc tương đương, tùy vào từng thời điểm. Lợi dụng từ nhiệm vụ chính trị, Tổng cục II đưa người chui sâu vào các cơ quan chính quyền một cách cưỡng ép. Trong cơ chế độc quyền lãnh đạo, quyền lực lại đẻ ra kinh tế. Đặc biệt lại nắm tất cả các cơ quan kinh tế quan trọng nên họ đã thao túng, lũng đoạn những khoản tài chính khổng lồ từ ngân sách quốc gia (hoặc trước khi nộp ngân sách quốc gia)(2).

Nhờ vậy mà thế lực ngầm của an ninh quân đội hiện tại là rất mạnh. Đã vậy, không những ngân sách nhà nước đã phải xuất ra một khoản tài chính rất lớn để các cơ quan hành chính, sự nghiệp phải nuôi những “con ong trong tay áo” này một cách rất vô lí, ngược lại các cơ quan an ninh công an và quân đội lại còn được sử dụng một khoản tiền mật quỹ để chi phí cho tất cả hệ thống khổng lồ đó như lực lượng “đặc tình”. Không thể thống kê được chi phí tài chính hàng năm cho các lực lượng này, bởi dựa vào lí do là bí mật quốc gia nên không có một cơ quan kiểm toán hoặc thống kê nào có thể nắm được dù là gần chính xác, chắc chắn con số sẽ vô cùng khổng lồ, mặc dù chi phí thực sự trong đó chỉ có khoảng 10%, còn lại 90% là tham nhũng và lãng phí.
Xin khẳng định lại rằng: hầu hết các số liệu về sức mạnh kinh tế của Tổng cục II đã được tố cáo công khai đều là những con số quá nhỏ nhoi so với thực tế. Từ nắm được kinh tế, dùng các thủ đoạn để khống chế lãnh đạo, cơ quan an ninh lại giữ được những vị trí chủ chốt trong tổ chức nhân sự, điều đó dẫn đến việc họ thao túng toàn bộ nền chính trị của đất nước. Đấy là câu trả lời cho những bê bối chính trị khủng khiếp nhất trong lịch sử Việt Nam lâu nay vẫn bị dư luận lên án mà không thể giải quyết được.

Lại nói lạc đề một chút về điều này: thông tin tiếp nhận quyết định ý thức và hành xử. Diễn biến tâm lí và những phản ứng tự nhiên của con người đã thể hiện một cách tự phát rất rõ trong những sự việc này. Ví dụ như một người “phó thường dân”, chỉ biết được toàn những điều tốt đẹp về chế độ, về chính quyền qua các cơ quan ngôn luận đã được Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ chỉ đạo thì nhận thấy rằng: ừ, cuộc sống như thế là cũng tạm ổn, ngày xưa còn ăn cơm độn bo bo, khoai mì ngày nay đã có đủ cơm ăn, áo mặc thế là cũng tốt rồi. Đất nước đang dần dần thay da đổi thịt, nhà cửa công trình xây dựng mới nhiều hơn, như thế là sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước là đúng đắn. Thế còn những người “có thông tin” hơn một chút, biết được thế nào là nhân quyền, là tham nhũng, là lãng phí, là cửa quyền, là quan liêu thì có thái độ bức xúc và đã có những phản ứng với chính quyền. Và tiếp đến là một số ít những người có hiểu biết và nắm được một vài thông tin quan trọng về sự độc tài lãnh đạo, thiếu dân chủ và tham nhũng nghiêm trọng trong tập thể lãnh đạo đất nước thì phản ứng gay gắt hơn, bằng những đơn từ, đóng góp xây dựng Đảng, rồi tố cáo, khiếu nại, phản đối. Thế đến khi xuất hiện hàng loạt các tố cáo và bằng chứng cụ thể của một số vị lão thần như thư tố cáo của ông Nguyễn Nam Khánh về một số (xin lưu ý ở đây là chỉ có một vài sự việc có liên quan đến các vị lãnh đạo, cụ thể là yêu cầu làm rõ vụ Xiêm Riệp, Sáu Sứ và T4) sai phạm của Tổng cục II, rồi ông Đặng Quốc Bảo tố cáo Nguyễn Văn An, Trần Đức Lương là tham nhũng và có những khoản tiền rất lớn một cách vô lí. Thế là dư luận phản ứng ầm ầm lên, và người ta lập tức muốn đưa ngay những vụ việc đó ra xét xử.

Xin thưa với các quí độc giả là những vụ việc như vậy đã diễn ra và kéo dài đến mấy chục năm nay rồi, chẳng qua là vì không được tiết lộ ra mà thôi (mãi đến ngày 17/6/2004 ông Khánh mới có thư gửi lên TƯ). Cũng như việc của kĩ sư Đỗ Nam Hải, cơ quan công an đã tạm giữ trái pháp luật từ ngày 6/8/2004, vậy mà đến ngày 10/12/2004 (có nghĩa là hơn 4 tháng sau) sau khi Nam Hải thông báo chính thức lên các báo chí ngoài nước thì mọi cá nhân, tổ chức mới biết đến và đồng loạt phản ứng từ khắp nơi.

Thế mới biết dân ta hiền lành, thiếu thông tin và vẫn chỉ là những phản ứng bộc phát, tức thời. Vậy, lại càng phải thưa rõ hơn với quí độc giả rằng những tội lỗi mới chỉ được khều khều ra trong cái đống rác đó thì có thấm thía gì so với những sự thật của nó. Cần phải biết một cách rất đầy đủ và chính xác rằng: cái sự dối trá, tàn bạo và tham nhũng của cái chế độ cộng sản này, cái hệ thống an ninh đang thao túng chế độ chính trị này, cái tập thể lãnh đạo này nó khủng khiếp lắm lắm rồi, người viết có đưa ra những con số làm bằng chứng thì cũng không ai có thể tin được đấy là sự thật (3).

Người ta vẫn bảo nhau là đừng chống cộng một cách cực đoan, đừng thể hiện thái độ quá khích, rằng truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam là khoan dung, là độ lượng, là tha thứ, là cải tà qui chính, là xoá bỏ hận thù ... xin thưa rằng, đấy là vì các vị còn chưa biết hết sự thật đó thôi, nếu các vị đã có đầy đủ thông tin thì chắc rằng các vị còn đòi treo cổ tất cả cái đám lãnh đạo này lên cũng chưa hết được tội.

Những sự việc này nói lên hai vấn đề: thứ nhất là các lực lượng đối lập còn rất thiếu thông tin cho nên mọi hoạt động mới chỉ là bộc phát, thiếu tính dự đoán, tính chiến lược, tính ngăn chận, tính phản ứng từ xa, và quan trọng hơn cả là thiếu thông tin sẽ không thể hành động hoàn toàn chính xác, thiếu thông tin cũng làm cho việc tập hợp và phát triển lực lượng chưa đạt được kết quả cao. Thứ hai là việc truyền bá rộng rãi thông tin là rất quan trọng, hiệu quả của công việc này trong suốt một khoảng thời gian rất dài vừa qua là còn rất kém .

Quay lại nội dung chính của bài viết, tất cả những thông tin về hệ thống an ninh cộng sản cho chúng ta hiểu rằng: ở trong một xã hội bị kiểm soát chặt chẽ bởi tầng tầng, lớp lớp những cơ quan an ninh của chính quyền cộng sản, những hoạt động đối lập, chống đối nhà nước cộng sản là một việc làm vô cùng nguy hiểm và khó khăn.

Tất cả những người chưa một lần học thuộc những kinh nghiệm này đều đã bị trả giá bằng chính cuộc đời mình. Tất cả những người còn chủ quan, coi thường bộ máy an ninh cộng sản thì nếu không phải trả giá bằng những hậu quả cụ thể thì chắc chắn cũng khó làm được việc gì đáng để cho họ lo sợ. Nên nhớ rằng, những cơ quan phản gián nổi tiếng Thế giới cũng đã từng phải trả giá đắt khi đối đầu với lực lượng an ninh cộng sản. Cơ quan an ninh cộng sản đã có những việc làm mà kẻ thù của họ cũng từng phải kính nể.

Đừng nghĩ rằng chúng ta đang đề cao họ mà cần phải nhận thấy đấy là một thực tế rất hiển nhiên. Cũng cần phải thấy rằng không phải biết như vậy để chúng ta sợ hãi, nhụt nhuệ khí, mất tinh thần, phàm là làm công việc gì cũng phải “biết người biết mình” thì mới đảm bảo được thành công và giành phần thắng .

Phải có những thông tin chính xác và hiểu biết tương đối đầy đủ về mạng lưới an ninh cộng sản thì những người đang đấu tranh, đối mặt với họ - dù là dưới hình thức nào, công khai hay bí mật - sẽ tìm ra những biện pháp để né tránh, đối phó và vô hiệu hoá nó.

Trong điều kiện hiện tại, đa số những cá nhân và tổ chức đấu tranh với chế độ cộng sản Việt Nam đều sử dụng phương tiện thông tin, máy tính, Internet làm phương tiện đấu tranh của mình. Sự lựa chọn đó là hoàn toàn chính xác và rất có hiệu quả. Song người sử dụng cũng cần phải biết đến thiết bị tin học, phương tiện Internet cũng là những con dao hai lưỡi. Chức năng và khả năng của các thiết bị tin học thì không một người nào có thể biết hết, đặc biệt là những người hoạt động chính trị lại càng không phải là những chuyên gia tin học. Mà các mánh khoé, thủ đoạn, kĩ thuật tin học lại phát triển không ngừng. Điều này cần đến một sự phổ biến liên tục và cập nhật những kinh nghiệm của các chuyên gia tin học. Những người có chuyên môn, có tài liệu và có tấm lòng với đất nước cần phải quan tâm và phổ biến nhiều hơn nữa những tác dụng và tác hại, những kĩ xảo và thủ thuật, những biện pháp bảo đảm bí mật và an toàn cho người làm việc với máy tính và mạng thông tin. Những người đang đấu tranh trong xã hội cộng sản phải hết sức lưu tâm và tìm hiểu, học hỏi thêm những kinh nghiệm này.

Trên thực tế, những người đã từng một lần thiếu may mắn, bị đối diện với cơ quan an ninh cộng sản, đa số đều không nắm được phương pháp xóa bỏ một cách triệt để những File tài liệu trong máy tính để các bộ phận kĩ thuật chuyên môn không thể phục hồi lại được. Hoặc là việc để lại dấu vết các liên lạc, các thao tác đã thực hiện trên máy tính. Đây là những bằng chứng để cơ quan an ninh qui kết và đấu tranh với họ.

Cần phải phân biệt sự khác nhau giữa hai mạng điện thoại công cộng và dịch vụ Internet cộng cộng. Tất cả các phương tiện thông tin liên lạc đều có thiết bị theo dõi, nghe trộm, do vậy điện thoại công cộng ở những vị trí bất kì là tương đối đảm bảo an toàn. Ngược lại, các dịch vụ Internet công cộng lại chính là nơi bẫy chết người. Hầu hết các dịch vụ Internet công cộng ở các đô thị lớn đều được đặt những “trap” để giăng bắt các thông tin.
Đặc biệt, các địa chỉ những trang Web hoặc e-mail của các tòa soạn báo điện tử ở hải ngoại đều được kiểm soát chặt chẽ. Do vậy, việc gửi thông tin đến các báo cần tránh gửi trực tiếp. Tốt nhất là có sự giúp đỡ của những địa chỉ trung gian ở nước ngoài, họ sẽ là cầu nối gián tiếp chuyển những tài liệu đó đến thẳng các địa chỉ cần thiết mà không sợ bị kiểm duyệt hoặc hệ lụy. Khi gửi thông tin ra nước ngoài, nếu không quá lớn nên tránh gửi ở dạng File hoặc có password, điều này cũng dễ làm cho hệ thống cảnh báo quan tâm đến.

Qua bài viết này người viết cũng có đôi điều trao đổi với các tổ chức và cá nhân có cùng một mục đích đấu tranh với chế độ cộng sản Việt Nam, đang hoạt động tại hải ngoại. Điều rất quan trọng là sự cẩn trọng, chặt chẽ, luôn luôn cảnh giác với bộ máy an ninh cộng sản. Một sự việc cụ thể là: trong vài lần trao đổi với một nhân vật hoạt động đối lập rất nổi tiếng tại hải ngoại (xin được giấu tên), người viết yêu cầu phải có một địa chỉ e-mail hoặc một số điện thoại tuyệt đối an toàn để trao đổi các thông tin tiếp theo (bởi vì ông ta thường dùng một địa chỉ e-mail và một số điện thoại để trao đổi với nhiều người khác nhau, và cũng không ít người đã biết những địa chỉ ấy, cơ quan an ninh cộng sản cũng đã nắm trong tay những địa chỉ đó), đây là một việc làm quá đơn giản trong một xã hội phát triển và tự do. Nhưng sau đó người viết đều nhận được từ ông ta một thái độ bất cẩn, không cho rằng việc phải có những địa chỉ liên lạc an toàn là quan trọng.

Xin khẳng định, đây là một sự cẩu thả cực kì nguy hiểm, đây là một sự coi thường “chết người”, và đấy cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những công việc không đạt được hiệu quả. Đối với những cá nhân và tổ chức đang hoạt động tại nước ngoài, việc để lộ những địa chỉ liên lạc như e-mail, số điện thoại ..., có thể không gây hại gì cho chính họ (chắc chắn là có những thiệt hại mà họ không hề biết, không nhìn thấy), thế nhưng điều đó lại rất nguy hiểm cho những cá nhân và tổ chức ở trong nước nếu có liên hệ với họ. Cơ quan an ninh sẽ lần theo các mối liên hệ đó để tìm ra được những người hoạt động ở trong nước Việt Nam, và vậy là rất nhiều người sẽ vì thế mà chết oan.

Vì vậy, xin khẳng định lại: những bất cẩn và coi thường đó là những “nguy hiểm chết người”, sự bất cẩn đó cũng phải được coi như một tội ác. Trong những hoàn cảnh rất khó khăn như hiện nay, phong trào đấu tranh cần phải tổ chức, xây dựng và tập hợp thành một lực lượng lớn mạnh, mọi hành động mang đến sự thiệt hại, tổn thất lực lượng cho phong trào đối lập đều phải coi là những tội lỗi, không thể chấp nhận.

Bản thân người viết, khi gửi và nhận các thông tin đều phải có sự giúp đỡ trung gian của nhiều cá nhân từ nhiều quốc gia khác nhau. Xin ví dụ một kinh nghiệm thực tế, người viết có một địa chỉ thư điện tử để “lộ” ra, được cơ quan an ninh biết và “quan tâm”. Có những lần, ở một địa chỉ này vừa mở hộp thư ra kiểm tra thấy có 2 e-mail trong Inbox, chưa kịp nhận và chuyển đi, một khoảng thời gian ngắn sau đó ở một địa điểm khác mở ra lại thì đã thấy hộp Inbox báo về số 0, có nghĩa là một số e-mail đã “không cánh mà bay”. Sự việc này cho thấy sự nguy hiểm của việc để lộ ra địa chỉ thư điện tử. Cho dù là bạn ở nước ngoài, cơ quan an ninh có thể không gây hại được cho tính mạng bạn, nhưng trước hết là họ sẽ biết được các mối liên hệ của bạn (và từ dây cà lại ra dây muống, biết đâu lại chẳng tìm ra cả một tổ chức?)

Sau nữa là họ sẽ bí mật xâm phạm vào hộp thư của bạn mà bạn không hề biết, họ sẽ ngăn chặn các mối liên hệ, làm gián đoạn các công việc, mục đích quan trọng là làm mất thông tin và ngăn cản việc phát triển các lực lượng đối lập. Cũng nên nhớ rằng các cơ quan an ninh không bao giờ xóa hết các thông tin gửi đến, một số thông tin không quan trọng hoặc chỉ mang tính chất phổ biến rộng rãi họ sẽ để nguyên cho bạn vẫn cảm giác là vẫn nhận được các thông tin trao đổi bình thường.
Như tựa đề của bài viết, tất cả chúng ta, ai cũng cần phải thấy rằng việc bảo đảm an toàn là quan trọng nhất. Phải bảo đảm an toàn cho cá nhân mình để bảo đảm an toàn cho tất cả những người có liên hệ với mình. Bảo đảm an toàn cho mình và mọi người có nghĩa là bảo vệ cho sự an toàn và lớn mạnh của phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài cộng sản. Thế nhưng cũng cần phải nói thêm, bảo đảm an toàn không đồng nghĩa với việc không có các mối quan hệ, liên lạc với nhau, phải né tránh tất cả những cơ hội, nhìn vào mọi sự việc đều là giả dối, đều đáng nguy hiểm.

Đây là một vấn đề đòi hỏi phải có sự tinh tế, có kinh nghiệm và có phương pháp đối phó hợp lí với từng trường hợp cụ thể. Nếu chúng ta cứ có một suy nghĩ cứng nhắc hoặc quá thận trọng, cẩn thận một cách ngớ ngẩn thì nhiều cơ hội sẽ qua mất, công việc chung sẽ không thể phát triển, quãng đường sẽ dài ra đến vô cùng. Vấn đề này rất cần được suy nghĩ, nhận thức và mỗi cá nhân tự rút ra như những bài học nghiêm túc để ứng xử và hành động hiệu quả hơn trong những giai đoạn đấu tranh trước mắt.

Chắc chắn bài viết có một số chi tiết sẽ không làm hài lòng một số đông độc giả, song người viết nhận thấy rằng trong giai đoạn hiện nay, cái điều cần thiết nhất là những sự thật, những lời nói thật có thể mất lòng, song nó sẽ mang đến những hiệu quả thực tế. Lực lượng đối lập Việt Nam cần tìm hiểu những sự thật, cần phải biết đầy đủ những thông tin để đưa ra những quyết sách, hành động đúng đắn, để vận động và xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn, chứ không phải là những lời khen ngợi, ru ngủ, những lí luận dài dòng thiếu tính thực tiễn.

Xin hẹn lại độc giả ở một bài viết khác!

------------

(1) “Tổng cục II – Vai trò quyết định trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình” và “Sự thật về “vụ án Phương Vicarrent”.
(2) Về nội dung này sẽ có những phân tích chi tiết hơn trong một bài viết khác để độc giả có thể biết được cặn kẽ.
(3) Sự tham nhũng của các lãnh đạo cộng sản cần phải có một bài phân tích đầy đủ với những số liệu cụ thể, dẫn chứng chính xác.


----------------------------------

 
Đằng Sau Nhân Vật Số 2 và Những Tham Vọng!

Thuận An - ĐDCND


Hiện nay ở Việt Nam người dân đang bắt đầu quan tâm đến Đại Hội Đảng X, đó là điều đáng mừng bởi từ lâu rồi ít ai để ý đến chính trị. Không phải nhân dân không muốn quan tâm tới chính trị, cái chính là lực bất tòng tâm, vì nhà nước hiện nay đâu phải là của nhân dân. Mỗi lời nói thể hiện bằng chủ trương của Đảng CSVN đều đi ngược lại quyền lợi và nguyện vọng của Nhân dân.

Đề tài về Tổng Cục 2 (TC2) hiện vẫn còn đang nổi cộm lên như những câu chuyện thời sự nóng bỏng nhất trước thềm Đại hội X. Trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tầng lớp trí thức, sinh viên….bàn tán rất nhiều về TC2. Đặc biệt tại các thành phố lớn, có cả khối tài liệu đưa tận tay những ai có nhu cầu tìm hiểu sự thật. Có lần tôi giật mình khi ngồi trong một quán café, một đám người trông rất trí thức hỏi nhau "Vụ án siêu nghiêm trọng" đã truy tố chưa? Chí Vịnh còn làm Tổng cục trưởng nữa không vậy? Tôi giật mình bởi vì lần đầu tiên nghe những câu hỏi đó nơi công cộng, đây không phải là câu nói bâng quơ. Đó là sự thật của những ai còn quan tâm tới chính trị cũng như "câu chuyện thời sự" về TC2.

Điều tôi muốn nói ngay với các bạn đó là vụ án này sẽ không bao giờ bị truy tố đâu. Nó đã bị Bộ Chính Trị dìm đi từ lâu rồi. Vấn đề đặt ra là tại sao vụ án lớn như thế mà cả Bộ chính trị không đưa ra được hướng xử lý, không có sự chỉ đạo từ cơ quan thống lĩnh này thì lấy đâu ra việc Viện Kiểm sát dám truy tố? Vậy thì Bộ chính trị giữ vị trí gì trong vụ này? Có bao nhiêu phần trăm Nhân dân biết được vụ án này? Có nhiều điều tôi còn thắc mắc mà vẫn chưa có câu giải đáp. Không riêng tôi, các bậc lão thành cách mạng, hàng triệu đảng viên Đảng CS cũng không trả lời được những câu hỏi này trong bối cảnh xã hội hoàn toàn bưng bít thông tin một cách triệt để như ở nước ta hiện nay.

Sau bài viết về nhân vật số 2 trong TC2, nhiều người ngạc nhiên về vai trò của Phạm Ngọc Hùng, tức Hùng Tút. Điều này không có gì lạ cả, toàn bộ cơ cấu TC2 là một tổ chức hoạt động mật, vì vậy những tin tức về nội bộ thường được giữ hết sức kín. Tuy nhiên, thông tin bị rò rỉ ra ngoài chẳng qua vì TC2 đã quá tham lam, hoạt động lộ liễu, chỉ biết lo vơ vét tài sản về làm giàu cho bản thân của lãnh đạo TC2, cho gia đình và vây cánh. Còn lại những nhân tố tích cực, những đồng đội đã từng hy sinh cho TC2 thì hôm nay bị trở mặt trù dập, thành nạn nhân của TC2. Tức nước vỡ bờ, nhờ vậy nhân dân mới biết đến cái "Vương triều Vũ Chính" nằm trong TC2. Trong TC2 hiện nay, nhân vật tầm cỡ như Nguyễn Chí Vịnh, số 1 và Phạm Ngọc Hùng, số 2 là những tên cầm đầu..đằng sau đó còn bao nhiêu tay chân bộ hạ, con ông cháu cha, liên hệ gia đình, họ hàng, bạn bè thân tín phức tạp…được Chí Vịnh và Ngọc Hùng đưa vô TC2 để thao túng.

Trong TC2 có nhiều nhân vật khác sau Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Kỳ này, chúng tôi đề cập đếnVũ Quốc Dũng, tức Dũng Cụt, con đẻ của Vũ Chính cựu Tổng Cục trưởng TC2. Dũng Cụt đã được cha mình và anh rể đã giàn xếp ra sao để đạt đến đỉnh cao danh vọng như ngày hôm nay?.

Khi còn nắm chức Tổng cục trưởng TC2, Vũ Chính không những thành lập công ty Toseco làm bình phong mà còn cho ra đời thêm nhiều công ty khác, trong đó có công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng Hồng Bàng, gọi tắt là HB và giao ngay cho con trai mình là Vũ Quốc Dũng lên làm giám đốc. Trước khi về Hồng Bàng, Dũng chỉ là một người tầm thường. Vào thập niên 80, do Dũng ít học nên Vũ Chính đã chạy chọt đưa con mình đi qua Đức để xuất khẩu lao động. Sau khi về nước, nhờ dựa hơi cha, Vũ Quốc Dũng xin được chân làm ở Hải quan Sài gòn.

Khi Vũ Chính nắm chức Cục trưởng TC2, Chính lập tức đưa con mình, Vũ Quốc Dũng vào làm việc trong TC2, phong ngay quân hàm đại úy, cho giữ ngay chức giám đốc công ty Hồng Bàng. Sau 5 năm hoạt động, công ty Hồng Bàng tự ý giải thể (?) đến nay vẫn có nhiều dấu hỏi về công ty này chưa trả lời được.

Dũng Cụt không được học hành tử tế, tất nhiên không có bằng cấp. Vì vậy Dũng chơi bằng giả, lại được cha nâng đỡ cho mác giám đốc nên mặc sức tung hoành. Từ khi thành lập, Hồng Bàng đã nhận biết bao công trình xây dựng lớn do TC2 tạo ra. Từ công trình trụ sở TC2 khang trang tại khu vực phi trường Tân Sơn Nhất, đến các khách sạn như Omil, Hoàng Đế, Hoàng Hà, Ba Son.Vũ Chính đều giao trực tiếp cho con mình điều hành.
Các công trình này nhà nước đã bỏ vốn ra hàng ngàn tỷ đồng. Dấu hỏi đặt ra là các công trình này có quyết toán không? Ai được phép kiểm tra những số liệu đó? Tại sao công ty Hồng Bàng phải giải thể ngay vào năm 1998? Những khách sạn do TC2 làm chủ đã có những hoạt động bất hợp pháp nào khác không? Có theo dõi hoặc làm những hành vi mờ ám đối với khách trong và ngoài nước, khách Việt kiều, khách ngoại quốc đến cư ngụ các khách sạn này trong thời gian du lịch Việt Nam không? Ai có thể trả lời những câu hỏi này?

Nhiều người biết quá trình thi công của công ty Hồng Bàng như thế nào nhưng không ai dám thắc mắc. Thực chất thì Hồng Bàng đã đi thuê các công ty kiểu như B phay * để làm. Bản năng dốt nát của Dũng Cụt cũng thể hiện ở chất lượng kém của công trình. Nếu có ai hỏi Dũng Cụt vế quyết trình quyết toán một công trình chắc chắn Dũng Cụt sẽ ngơ ngơ ngác ngác. Mang tiếng làm giám đốc nhưng Dũng Cụt phó thác cho người khác điều hành. Dũng chỉ làm nhiệm vụ chi tiền không có sổ sách. Sau khi Hồng Bàng được giải thể, Vũ Chính điều Dũng Cụt về Cục 12 làm trưởng phòng, rồi đề bạt lên làm Cục phó. Cục 12 là Cục chủ lực của TC2, có trụ sở đóng tại Sài gòn, hoạt động trên mọi phương diện tập trung ở các khu vực thuộc phía Nam, trách nhiệm từ an ninh, chính trị, tình báo, kinh tế cho đến lãnh vực quốc phòng.

Ý đồ xây dựng vai trò của Dũng Cụt do Vũ Chính và Chí Vịnh thực hiện chưa dừng lại ở chỗ đó. Đằng sau những bước đi này đầy rẫy âm mưu thâm độc của gia đình Vũ Chính – Chí Vịnh. Trước Đại Hội IX, Vũ Chính tính toán chuyển giao quyền lực TC2 lại cho Chí Vịnh, đưa Vịnh lên làm Cục trưởng TC2 vào tháng 7/2000. Vũ Chính tham vọng nắm chức Trưởng ban An ninh Quốc gia nên xin chuyển về làm ở Tổ An ninh Tư vấn cho Chủ Tịch nước. Riêng Chí Vịnh thì được thu xếp để đề cử vô Ban chấp hành Trung ương, dự mưu nếu vào được trung ương thì Chí Vịnh sẽ về làm Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị một thời gian rồi nắm lấy chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị luôn. Nếu đạt được ý đồ này, khả năng Nguyễn Chí Vịnh trở thành Tổng bí thư đảng CSVN khóa X là rất lớn.

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị Đại hội IX, đã bất ngờ xảy ra chuyện bất đồng giữa Lê Khả Phiêu và Ban cố vấn, chủ yếu là Đỗ Mười và Lê Đức Anh không còn ưa gì Lê Khả Phiêu. Qua chỉ đạo của Đỗ Mười và Lê Đức Anh, Vũ Chính và Chí Vịnh đã thực hiện kế hoạch đảo chính Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu thành công. Tuy nhiên, sau vụ việc đó, Vũ Chính lại không được cất nhắc làm trưởng Ban An ninh, trung uơng Đảng CSVN lại điều ông Cư, Bí thư tỉnh ủy Phú Thọ về làm.

Riêng Chí Vịnh thì lại không trúng vào Trung ương do vướng vào vụ A10, tức là vụ nghe lén điện thoại của các Uỷ viên trong Bộ chính trị khoá IX. Vụ này do Lê Đức Anh giật dây cho Lê Khả Phiêu, đương kim Tổng Bí Thư chỉ đạo. Tổng Cục 2 (TC2) được lệnh thi hành, Vũ Chính và Chí Vịnh là người thực hiện. Khi có bất đồng, Lê Đức Anh công khai tố cáo và lên án Lê Khả Phiêu chỉ đạo vụ án này. Vũ Chính và Chí Vịnh đã phản lại Lê Khả Phiêu, hùa theo Lê Đức Anh để cùng tố cáo Phiêu trong âm mưu nhằm lật đổ Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu. Chính vì có công tày trời lật đổ được đương kim Tổng Bí Thư đảng CSVN nên Chí Vịnh vừa được phong danh hiệu Anh Hùng.

Đầu năm 2002, Vịnh được thăng quân hàm thiếu tướng, Phạm Ngọc Hùng (Hùng Tút) lên đại tá cuối năm 2001. Vì không được lọt vào trung ương, Chí Vịnh xoay qua hướng khác, chuyển về một quân khu để nắm chức Tư lệnh chờ cơ hội đến Đại Hội X nhảy vào Trung ương lại. Thời điểm này, lãnh đạo TC2 gồm Vũ Chính, Chí Vịnh, Hùng Tút đã tính toán dự trù khi Chí Vịnh vào trung ương thì Hùng Tút sẽ lên nắm Tổng cục trưởng TC2 (vị trí số 1), Dũng Cụt từ chức Cục trưởng cục 12 sẽ nhảy lên nắm chức Tổng cục phó TC2 (vị trí số 2).
Ý đồ này đã không thực hiện được vì ông Tướng Phạm Văn Trà Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sợ khi Chí Vịnh đi thì TC2 sẽ bị nát bét nên quyết định giữ chân Chí Vịnh lại cho ổn định. Ngờ đâu, đến năm 2004 thì ông Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Nam Khánh và các cựu chiến binh cao cấp khác liên tục gửi đơn thư kiện lên Trung ương, tố cáo về vụ dàn dựng cán bộ tình báo T4 ảo, về âm mưu đảo chánh nội bộ, về cách bố trí cán bộ, v.v….đòi Trung ương thanh tra TC2. Với áp lực này đã làm ảnh hưởng đến TC2, gần 2 năm qua, TC2 hoạt động chủ yếu là lo đối phó với tình thế là chính.

Những ý đồ và tham vọng của Chí Vịnh và tay chân không dừng lại ở đó. Hiện nay, Dũng Cụt từ Cục 12 trong Sài gòn đã ra Hà nội để nắm Cục phó cục 16. Âm mưu của Chí Vịnh đưa Dũng Cụt lên làm Cục trưởng hoặc Tổng cục phó TC2 trước Đại hội Đảng X vẫn nằm trong tham vọng của Vũ Chính và Chí Vịnh. Có nguồn tin tiết lộ, nếu Dũng Cụt không lên được Cục Trưởng Cục 16, thì Trần Quốc Minh sẽ thay thế vị trí đó. Mình không phải là người xa lạ, Minh là anh em đồng hào với Chí Vịnh, vì em trai Trần Quốc Minh lấy em vợ của Chí Vịnh. Những quyết định đề bạt cán bộ của TC2 thời gian qua hoàn toàn không thông qua bất kỳ ý kiến tập thể nào, nghiễm nhiên người thân, vây cánh trong gia đình của Vũ Chính và Chí Vịnh sẽ nắm giữ các vị trí chủ chốt để từ từ chỉ đạo cả hệ thống đảng CSVN, cả Bộ Chính Trị và Trung ương Đảng. Hiện nay, Cục 15 đã giải thể đổi qua Cục 16 sau khi bị áp lực từ lá thư tố cáo của Tướng Nguyễn Nam Khánh. Cục 16 chỉ thay tên đổi họ, vẫn là con cưng của TC2 để tiếp tục tàn phá đất nước.

Có nhiều bạn đọc trên các diễn đàn không tin như vậy sau bài nhân vật số 2 trong TC2. Sự thực đất nước mình là như vậy đó, ngay bản thân tác giả cũng tưởng như không tin nổi nữa. Các nội dung này Bộ chính trị biết, Ban bí thư Trung ương Đảng CSVN biết nhưng há miệng mắc quai. Có nhiều người vẫn không tưởng tượng nổi chỉ cách đây chục năm, từ “bán cháo lòng" mà giờ đã làm to đến thế. Thực ra, bán chào lòng không có gì xấu, thời đó Chí Vịnh và bạn bè đều là sĩ quan cấp úy trong quân đội, chế độ bao cấp nên cuộc sống khó khăn, phải lao động bán cháo lòng để cải thiện đời sống. Điều muốn nói chính là từ một vị trí tầm thường trong xã hội, nhờ mưu mẹo, vây cánh, luồn cúi và không chừa bất cứ thủ đoạn tàn bạo nào mà trong một thời gian rất ngắn, Chí Vịnh và gia đình, bạn bè, thân tín đã nắm giữ các vị trí quyền lực trong Đảng CSVN, đã vơ vét tài sản nhân dân để trở thành "Tư bản đỏ" kếch xù.

Vấn đề nổi cộm là với tư cách rất tệ, trình độ học vấn rất thấp, bản chất lừa thầy phản bạn, tráo trở, phạm nhiều tội ác, tham nhũng công khai nhưng vẫn tiếp tục tồn tại. Thế lực nào đứng đằng sau lãnh đạo Tổng Cục 2 (TC2)? Ai đỡ đầu cho TC2 để lũng đoạn cả hệ thống đảng CSVN? Tại sao cả Bộ chính trị cũng không dám đưa vụ án “siêu nghiêm trọng" ra ánh sáng? Lần lượt chúng tôi sẽ giải thích cho nhân dân rõ.

* Trong xây dựng, công ty Hồng Bàng nhận trực tiếp công trình thi công gọi là bên A, sau đó giao lại cho công ty khác thực hiện gọi là B phay.

----------------------------------------



 
Tuyên Bố

Phản đối hành động đàn áp Tôn Giáo của ĐCSVN

Ngày 5 tháng 8 năm 2005, tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo đã tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội. Cụ thể, Cư sĩ Võ Văn Bửu tự thiêu tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và Cư sĩ Trần Văn Út tự thiêu tại Bắc Vàm Cống, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, Cư sĩ Nguyễn Văn Điền và Mai Thị Dung bị giết chết một cách mờ ám. Cùng ngày, nhiều tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo cũng đã bị công an bắt giữ và đưa đi, tình trạng sống chết chưa rõ.

Đảng Dân Chủ Nhân Dân vô cùng phẫn nộ trước sự kiện đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội. Chúng tôi cực lực lên án các hành động vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, hành động đàn áp tôn giáo mấy chục năm qua. Gần đây nhất là sự kiện đàn áp Phật giáo Hòa Hảo đã vi phạm nghiêm trọng điều 18, Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự Và Chính Trị, điều 18 đã quy định rõ:

1) Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

2) Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.

3) Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.

4) Các quốc gia hội viên ký Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.

Chúng tôi qui trách nhiệm tội ác này là do Đảng CSVN gây nên, và họ phải hoàn toàn gánh chịu trước lịch sử.

Đảng Dân Chủ Nhân Dân xin chia sẻ những mất mát đau thương của tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo. Đảng Dân Chủ Nhân Dân kêu gọi Đảng cộng sản chấm dứt ngay hành động đàn áp dã man đối với các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Hãy trả về cho nhân dân những quyền cơ bản của con người.

Việt Nam, ngày 13 tháng 8 năm 2005
Thường Vụ Đảng Dân Chủ Nhân Dân
Nguyễn Hoàng Long


------------

Protest Letter Ha Noi Government’s Oppression of The Hoa Hao Buddhists

On August 5, 2005 several members of the Hoa Hao Buddhist sect immolated themselves to protest Ha Noi government’s religious oppression policy.

Mr. Vo Van Buu and Mr. Tran Van Ut both burned to death in My An village, district Cho Moi, An Giang province and village Bac Vam Cong, district Cho Moi, An Giang province, respectively.

In addition, Mr. Nguyen Van Dien and Mrs. Mai Thi Dung were murdered by Ha Noi security forces. On the same day, many other Hoa Hao members were arrested; their whereabouts are unknown.

The International Covenant on Civil and Political Rights, article 18 has stated clearly:


1. Everyone shall have the right to freedom of thought, conscience and religion. This right shall include freedom to have or to adopt a religion or belief of his choice, and freedom, either individually or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in worship, observance, practice and teaching.

2. No one shall be subject to coercion which would impair his freedom to have or to adopt a religion or belief of his choice.

3. Freedom to manifest one's religion or beliefs may be subject only to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety, order, health, or morals or the fundamental rights and freedoms of others.

4. The States Parties to the present Covenant undertake to have respect for the liberty of parents and, when applicable, legal guardians to ensure the religious and moral education of their children in conformity with their own convictions.

We strongly condemn the Ha Noi government for a violation of human rights and freedom of religion. The Communist Party is responsible for these crimes; history will judge them for such murderous persecution.

Please accept our sympathies for the lost of innocent lives. We call on the Communist Party to immediately stop their murderous acts against Hoa Hao members.

Viet Nam August 13, 2005
Central Committee Member
The People's Democracy Party
Nguyen Hoang Long


------------------

 


 


Việt Nam: Tổ chức Bảo vệ Nhà báo Lo Ngại Về Tình Trạng Sức khỏe cuả Bác sĩ Phạm Hồng Sơn

New york, 25 tháng 7, 2005 - Tổ chức bảo vệ nhà báo đã bày tỏ sự lo ngại sâu sắc về tình trạng sức khỏe của Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đang càng ngày càng nguy kịch. Bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị giam từ năm 2002 vì đã phổ biến trên mạng các tài liệu cổ động về nền dân chủ. Theo nguồn tin của Đảng Dân chủ Nhân dân, tuần vừa qua B/S Sơn đã bị ho ra máu và gia đình đã yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam tiến hành cuộc kiểm tra sức khỏe để tìm ra nguyên nhân căn bệnh.

Bác sĩ Sơn bị bắt tại Hà nội ngày 27 tháng 3 năm 2002 vì tội đã dịch ra phiên bản tiếng Việt của bài “Tư do Dân chủ là gì?” được đăng trên trang nhà của tòa đại sứ Hoa kỳ. Trước đó, Sơn đã viết các bài tiểu luận, quảng bá tinh thần đấu tranh cho tự do, dân chủ và đã gửi các tài liệu này lên mạng.

Hà nội cáo buộc bác sĩ Phạm Hồng Sơn tội chống đối nhà nước vì đã dám phổ biến các quan điểm của anh. Bản án dành cho anh là 13 năm tù, cộng thêm 3 năm quản chế tại gia hồi tháng 6 năm 2003. Sau đó, bản án được giảm từ 13 năm xuống 5 năm.

Hồi tháng 8 vừa qua, chị Vũ Thuý Hà, vợ bác sĩ Sơn đã nói với Đài Á châu Tự do rằng tình trạng sức khỏe của Sơn rất tồi tệ và hiên anh đang mắc chứng bênh sa ruột. Tuy nhiên Hà nội vẫn tiếp tục giam giữ Sơn trong khi có nhiều tù nhân khác được thả tự do.
Ngoài Phạm Hồng Sơn ra, hai người từng viết bài và phổ biến trên mạng là Nguyễn Vũ Bình và Nguyễn Khắc Toàn hiện cũng bị giam giữ.

“Chúng tôi quan tâm sâu sắc đến nhũng cực hình mà anh B/s Sơn đã gánh chịu và nó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe của anh trong thời gian qua. Chúng tôi kêu gọi chính quyền Hà nôi nên thả ngay anh Sơn”. Ông Ann Cooper, giám đốc điều hành tổ chức bảo vệ các nhà báo đã lên tiếng mạnh mẽ về trường hợp của B/s Phạm Hồng Sơn như vậy.

------------------

ÐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democracy Party



Ngày 21 tháng 7 năm 2005

Nơi gửi: Đảng Dân chủ Nhân dân
PO Box 84211Seattle, WA 98124USA

Nơi nhận: Tổ chức Ân xá Quốc tế
Số 5 Penn Plaza, lầu 14
New York, 10001
Admin-us@aiusa.org

Về việc: Trả tự do cho Bác sĩ Phạm Hồng Sơn để sớm được điều trị bệnh

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn hiện nay đang trong tình trạng sức khoẻ xấu. Việc trả tự do cho bác sĩ Phạm Hồng Sơn để anh sớm được điều trị rất cần thiết. Chúng tôi kêu gọi Tổ chức Ân xá Quốc tế khẩn quan tâm đến trường hợp của anh.

Bác sĩ Sơn bị tù chỉ vì tội đã dịch ra phiên bản tiếng Việt bài “Tự do Dân chủ là gì?” được đăng trên trang nhà của tòa đại sứ Hoa kỳ. Anh bị tuyên án 5 năm tù với 3 năm quản chế tại gia vì đã dám bày tỏ quyền tự do diễn đạt tư tưởng. Vì điều kiện trong tù khắc nghiệt, sức khoẻ của bác sĩ Sơn đã càng lúc càng suy sụp. Bên cạnh chứng bệnh sa ruột, cần nhanh chóng điều trị, bác sĩ Phạm Hồng Sơn hiện đã bị ho ra máu nhiều lần.

Chúng tôi trân trọng kêu gọi sự quan tâm của quý cơ quan để yêu cầu chính quyền Việt Nam thả tự do ngay bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Chúng tôi sẳn lòng hợp tác để thúc đẩy Việt Nam tôn trọng các điều luật về nhân quyền cũng như các cam kết mà Việt Nam đã ký trong bản công ước quốc tế về quyền công dân và chính trị.

Đảng DCND thành lập tại Việt Nam nhằm đấu tranh ôn hoà cho quyền tự do, dân chủ, công bằng và thịnh vượng cho Việt Nam. Lãnh đạo đảng và đảng viên là những trí thức, sinh viên tại các trường Đại học và công nhân viên chức của chính quyền Hà nội.

Thay mặt Đảng Dân chủ Nhân dân, chúng tôi thiết tha yêu cầu các tố chức nhân quyền quốc tế kêu gọi nhà cầm quyền Hà nội thả các tù nhân chính trị khác hiện đang bị giam tại Việt Nam, cụ thể là nhà báo Nguyễn Vũ Bình và cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn. Đây là những người hiện đang bị cầm tù vì đã dũng cảm phổ biến trên mạng các bài viết cổ động cho phong trào dân chủ ở Việt Nam.

Nguyễn Sơn
Thường Vụ Trung Ương/UV Ngoaị Vụ
Vanphonglienlac_dangdcnd@yahoo.com

--------------

VIETNAM:
CPJ concerned about health of imprisoned Internet writer


New York, July 25, 2005—The Committee to Protect Journalists is deeply concerned by reports that the health of imprisoned writer Pham Hong Son is deteriorating. Son, imprisoned since 2002 for distributing pro-democracy writings, has been coughing up blood, a U.S.-based Vietnamese dissident group, the People's Democracy Party (PDP), reported last week.
Family members have requested a medical examination to determine the cause, a PDP source said.

Son, a physician, was arrested in Hanoi on March 27, 2002, after translating into Vietnamese and posting online an essay titled, "What Is Democracy?" The essay had first appeared on the U.S. State Department's Web site. Son had previously written essays promoting democracy and human rights, which were posted on Vietnamese-language online forums. The Vietnamese government called Son's work "antistate" and the Hanoi People's Court in June 2003 sentenced Son to 13 years in prison, plus an additional three years of house arrest. Son's sentence was later reduced to five years.

In August 2004, Son's wife, Vu Thuy Ha, told the U.S.-government funded Radio Free Asia that her husband was in very poor health and suffered from a hernia. Son remains incarcerated despite several amnesties of political prisoners by the Vietnamese government during the past year.

Internet writers Nguyen Khac Toan and Nguyen Vu Binh are still jailed as well. "We are gravely concerned about the toll that more than three years' imprisonment has taken on the health of Pham Hong Son," CPJ Executive Director Ann Cooper said. "We call on Vietnamese authorities to release him immediately so that he can seek medical treatment."

-------

ÐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democracy Party

July 21, 2005

PO Box 84211
Seattle, WA 98124
USA

Amnesty International USA
5 Penn Plaza – 14th floor
New York, NY 10001
Admin-us@aiusa.org

Ref: Immediate Release of Dr. Pham Hong Son for Medical Treatment

Dear Sir/Madam,

The immediate release of Dr. Pham Hong Son for medical treatment is necessary. We call on you for special attention and action to this urgent matter.

Dr. Pham Hong Son, a medical doctor who was incarcerated for his translation of an article from the website of the U.S. Embassy in Viet Nam, titled “What is democracy”. Dr. Son was sentenced five years in jail plus an additional three years of house arrest for his freedom of expression. Due to hard conditions in prison, Dr. Pham Hong Son’s health has been deteriorating rapidly. Dr. Son was diagnosed with hernia, an illness that requires immediate treatment attention. Recently, Dr. Pham Hong Son has been developed the symptom of coughing with blood.

We respectfully call on your attention about Dr. Son’s case and appeal for your support in asking Viet Nam government to immediately release Dr. Pham Hong Son. We would like to co-operate with your organization in demanding the Viet Nam government to respect the international human rights obligations, including their commitment under the International Covenant on Civil and Political Rights.

The People’s Democracy Party (PDP) has been founded in Viet Nam to fight peacefully for Freedom, Democracy, Justice and Prosperity. Party leaders and members of the PDP constitute scholars, university students and former government officials.

On behalf of our Party, we also kindly ask you to demand the Socialist Republic of Viet Nam (SRV) release all political prisoners such as former reporter Nguyen Vu Binh and former SRV’s soldier Nguyen Khac Toan who were held behind bars for distributing their democratic writing online.

Thank you very much for your supports. We look forward to your response.

Sincerely

Son Nguyen
The People’s Democracy Party

Vanphonglienlac_dangdcnd@yahoo.com

****************************


 
Thư Ngỏ

Kính thưa đồng bào!


Một dân tộc nằm bên bờ biển Đông. Một đất nước mà mỗi năm phải hứng chịu cả chục cơn bão dữ, người dân nước đó phải ngoan cường để không bị cuốn phăng ra biển lớn.

Một dân tộc phải sống hàng ngàn năm dưới tham vọng của đại Hán phương Bắc, dân tộc đó hiểu được thế nào là họa xâm lăng. Một dân tộc phải sống gần một trăm năm dưới ách bóc lột thuộc địa dã man của thực dân phương Tây; dân tộc đó hiểu được giá trị của độc lập.

Độc lập là khát vọng ngàn đời của một dân tộc luôn đấu tranh để không bị đồng hóa.

Nước nhà được Độc lập nhưng nhân dân không được Tự do, thì kiếp nô lệ của dân tộc vẫn còn. Nhiều học giả phương Tây so sánh rằng Chủ nghĩa Cộng sản là tự thuộc địa. CS tự cai trị dân mình, tự phá hoại tài nguyên và phá nát nền văn hóa dân tộc. Tài sản không phải đem về xây dựng chính quốc, mà là làm giàu và củng cố quyền lực cho những kẻ nắm quyền ở bản địa.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, con người luôn đi tìm tự do. Tự do là khát vọng ngàn đời của nhân loại. Tự do là sự vươn tới hạnh phúc, sự thỏa mãn. Một con người tự do sẽ phát kiến những tư duy, sáng tạo của mình nhằm góp phần xây dựng xã hội. Một xã hội tự do sẽ cho con người ta cách suy nghĩ nhằm tổ chức cuộc sống của mình tốt hơn. Chính sự tự do đã xây dựng nên nền văn minh nhân loại.

Không gì hạnh phúc hơn là được hít thở, lặn ngụp trong một thế giới tự do.

Độc tài trói buộc con người, ép buộc con người phải làm theo tư tưởng của họ. Thể chế do những chế độ độc tài xây dựng không để phục vụ xã hội mà để củng cố nền độc tài, để tiếp tục thống trị Nhân dân. Độc tài không những đi ngược lại khát vọng của nhân loại mà còn làm cho xã hội trì trệ.

Chế độ CSVN là sự pha trộn của những chế độ độc tài đã từng có của lịch sử để tạo nên một kiểu độc tài mang tính chất đặc sản. Thủ đoạn của CSVN là làm cho người dân khiếp sợ, làm tê liệt ý chí phản kháng; như vậy mới dễ bề cai trị.

Ở đây hoàn toàn không có luật pháp hay luật lệ mà chỉ có sự ra lệnh của đảng. Dân chúng càng sợ hãi thì nhà cầm quyền càng thỏa mãn tính đắc chí, cao ngạo.

Khi dân chúng bất bình với một quan chức CS, họ viết đơn khiếu nại. Việc giải quyết đơn từ của dân chúng thuộc bộ máy hành chánh. Nhưng những đơn thư này không được giải quyết bởi bộ phận tư pháp mà là Công an. Công an gọi lên đồn không phải trả lại quyền lợi cho dân mà là chụp mũ dân nói xấu cán bộ, bêu xấu Đảng. Từ đó trở đi, chẳng ai dám thưa kiện nữa.

Nỗi sợ hãi lây lan như là bệnh dịch của tinh thần. Nỗi sợ hãi đi từ cải cách ruộng đất ở miền Bắc cho đến cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam. Không ai dám xì xào, dân chúng đưa mắt nhìn nhau về những thủ đoạn trấn áp của CS.

Chính sách phân phối lương thực theo đầu người là một thí điểm quái đản của chủ nghĩa bình quân. CS nắm bao tử của người dân để điều khiển đầu óc của họ. Con người quay lại cuộc sống động vật cũng chỉ vì miếng ăn.

Hôm nay, người dân có thưa kiện thì quan chức CS không còn chụp mũ như cách đây 10 năm, mà họ trả lời một cách vô trách nhiệm: Không nghe, không thấy, không biết… Điều này cho thấy thời thế đã đổi thay.

Nỗi sợ hãi trong chế độ độc tài không tự nhiên biến mất mà nó di chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác, từ bị trị sang thống trị. Nỗi sợ hãi cũng là một đại lượng tuân theo định luật bảo toàn năng lượng.

Sự khao khát tự do đã thổi bùng lên ngọn lửa dũng cảm, ngọn lửa này sẽ xua tan nỗi sợ hãi triền miên.

Dưới ách cai trị của một hệ thống chính trị thối nát và lừa bịp; người dân Việt Nam lúc nào cũng sống trong cảnh bực tức, khó chịu.

Dân chúng đã chán ngấy tính độc tài, độc trị, độc tôn của CSVN. Đời sống kinh tế đã khá giả nhưng đảng không chịu cởi mở tinh thần cho dân chúng. Trình độ dân trí ngày càng cao, hệ thống thông tin toàn cầu nhưng CS vẫn tiếp tục cai trị dân chúng như thời thuộc địa

Kết quả Hội Nghị Trung Ương lần thứ 12 của Đảng CSVN vừa qua là thí dụ điển hình về bản chất ù lỳ, lạc hậu của CS. Điều này không làm cho nhân dân băn khoăn. Hội Nghị chỉ để khẳng định một điều quan trọng khác; đây chính là Hội Nghị Trung Ương cuối cùng của Đảng CSVN.

Kính thưa đồng bào!

Sự ra đời của Đảng Dân chủ Nhân dân là sự kiện quan trọng trong sinh hoạt chính trị. Sự kiện này đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình đấu tranh cho dân chủ hóa. Từ thời điểm này, những ai không thích CS đã có một đường lối khác để họ theo đuổi. Nếu chính sách của CS không được nhân dân ủng hộ thì đã có một chính sách khác hợp lòng dân. Xã hội đi tìm sự đồng thuận của mình trên số đông. Một phép so sánh đúng-sai sẽ được thống kê bằng những con số cụ thể.

Kính thưa đồng bào!

Sau khi Đảng Dân chủ Nhân dân ra đời, chúng tôi đã nhận được nhiều điện thư ủng hộ, động viên của những sĩ phu, trí thức; những con người đau đáu vì nỗi nhục của dân tộc Việt Nam. Nhiều thanh niên nhiệt huyết đã viết đơn xin gia nhập đảng để chiến đấu vì một nền dân chủ Việt Nam. Những lá thư này đã xác định lại một điều là không phải tất cả tuổi trẻ Việt Nam đều thờ ơ, lẩn tránh trách nhiệm của mình trước non sông, tổ quốc.

Dòng máu Lạc Hồng chạy rần rần trong huyết quản. Trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ làm sống lại khí thế hào hùng của Bạch Đằng, Chi Lăng… Một tầng lớp thanh niên sẳn sàng theo đảng chiến đấu, hy sinh vì một nước Việt Nam dân chủ, tự do, công bằng và thịnh vượng.

Đọc những lời tâm huyết của tuổi trẻ tình nguyện chiến đấu vì mục tiêu của đảng mà chảy nước mắt, mừng thay cho vận mệnh dân tộc Việt Nam.

Ngược lại, cũng có vài lá thư giễu cợt. Thiểu số còn lại là những người đa nghi. Họ không tin vào tính độc lập và đối lập của đảng Dân chủ Nhân dân. Họ cho rằng đảng Dân chủ Nhân dân là đảng “cuội”, một âm mưu của CS nhằm giảm bớt sự chống đối và phân hóa những mũi nhọn tấn công trực diện. Quan điểm này không hẳn là do bản tính đa nghi mà có thể còn do nỗi sợ hãi thâm căn cố đế. Dù vậy, đây là những quan điểm có cơ sở, và Đảng Dân chủ Nhân dân cũng trân trọng ghi nhận.

Kính thưa đồng bào!

Tham vọng của CS là làm thế nào để nâng cao mức sống của dân chúng, để dân chúng quên rằng họ đang bị đè đầu cởi cổ. Tuy nhiên, đời sống dân nghèo chưa khá giả thì bất công xã hội đã gia tăng. Bất công xã hội sẽ gây nên bất ổn xã hội. Căn nguyên của nó là vì đất nước không có dân chủ, tự do.

CSVN mở toang mọi cánh cửa giao thương buôn bán với bên ngoài nhưng lại dựng nên những “tấm màn sắt vô hình” đối với nhân dân trong nước. Đây là sự cản trở nội lực làm cho Việt Nam không thể thoát ra khỏi đói nghèo lạc hậu.

Một chính phủ không dám công khai, minh bạch những hoạt động của mình; chính phủ đó bị nhân dân khinh bỉ, chính phủ đó không được lòng tin cậy của nhân dân.

Một xã hội dân chủ sẽ cho phép mọi tầng lớp nhân dân góp tiếng nói của mình để góp ý cho chính phủ. Kể cả những tiếng nói đối lập. Tự do thông tin sẽ giúp chính phủ cân nhắc đúng đắn những quyết định của mình.

Mục tiêu ưu tiên của chúng tôi là xây dựng một chính phủ vững mạnh và trong sạch. Một chính phủ như vậy mới có khả năng lãnh đạo đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Một chính phủ thối nát và tham nhũng là tập hợp những kẻ vô lại và phá hoại.

Kính thưa đồng bào.

Sự công khai của đảng Dân chủ Nhân dân trên mạng chỉ là phần của chiến thuật. Con đường phía trước còn dài và gian nan. Chúng tôi phải chiến đấu khôn ngoan và bền bỉ để vừa bảo vệ Đảng trước trấn áp của chế độ vừa đạt được những mục tiêu của Đảng.

Chúng tôi tin tưởng rằng những người đến với đảng Dân chủ Nhân dân là những người con dũng cảm của đất nước. Ngay từ bây giờ, chúng tôi đã quan tâm đến năng lực và phẩm chất của đảng viên nhằm xây dựng một đội ngũ đoàn kết và làm việc có hiệu quả.

Tính liêm khiết và danh dự là mục tiêu hàng đầu mà các đảng viên đảng Dân chủ Nhân dân phải xây dựng cho bằng được. Nếu có nó, chúng tôi sẽ có được sự ủng hộ của Nhân dân, sự tôn trọng của các đảng phái khác, cũng như sự kiêng nể của kẻ thù.

Chúng tôi quyết tâm truyền ngọn lửa nung nấu từ con tim của mình để xua tan nỗi sợ hãi trong lòng dân chúng. Với lòng dũng cảm, chúng ta sẽ chiến đấu kiên cường để đất nước Việt Nam sớm được Tự do, Dân chủ, Công bằng và Thịnh vượng.

Chào thân ái.
Dân chủ nhất định thắng.


Việt Nam, ngày 16 tháng 7 năm 2005
Nguyễn Hoàng Long.
Thường vụ TU/Đảng DCND

Vanphonglienlac_dangdcnd@yahoo.com

-----------------------------------

 
Sửa Sai Quá Khứ và Chấn Hưng Đất Nước

Trần Hoàng Lê - Thường Vụ TU/Đảng DCND

Kính thưa quý vị !

Việt Nam chúng ta đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Những di ảnh của quá khứ hẳn đã không ít lần trỗi dậy trong tâm thức -lịch sử của mỗi người dân Việt. Gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ, cảm giác. Đó là nỗi bâng khuâng về hình ảnh của tổ tiên cái thuở "mang gươm đi mở cõi". Đó là lòng căm phẫn khi giặc ngoại xâm dày xéo quê hương. Đó là nỗi xót xa đau đớn khi chính người Việt chém giết nhau, của những: loạn 12 xứ quân, đàng trong- đàng ngoài, Tây Sơn- Chúa Nguyễn, Nhà Lê- Nhà Mạc, Bắc cộng sản- Nam cộng hoà,….

Phải nói, dân tộc chúng ta đã để mất mát quá nhiều thời gian và một lượng con người khổng lồ cho chiến tranh. Bởi thế, những tự hào về chiến thắng ngoại xâm chỉ như một niềm vui mộng mị che lấp bao tâm hồn con người khỏi biết xót xa trước những mất mát ấy. Mỗi người Việt cần phải dũng cảm phủi đi vầng sáng ảo mộng để nhìn thẳng vào sự thật yếu kém của lịch sử đất nước mình và ý thức vươn lên bù đắp cho những khoảng thời gian đã mất trong quá khứ. Tôi hoài nghi những người luôn vỗ ngực tự hào về một bề dày lịch sử dân tộc. Cái tự hào – hào nhoáng ấy đã ru ngủ con người, ru ngủ tiềm năng đất nước ghê gớm biết nhường nào !

Cha ông ta đã có những bước trượt dài. Dân tộc sinh ra không ít người có đầu óc lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm, Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, v.v… Nhưng, những đề xuất của họ không được giới cầm quyền ngu dốt thực sự coi trọng. Vì thế, dân tộc Việt Nam đã bỏ lỡ mất những cơ hội cải cách hoặc canh tân đất nước.

Dù cho người bạn láng giềng của chúng ta là Nhật Bản có nắm được cơ hội canh tân trong cải cách Minh Trị, nhưng về cơ bản, Nhật Bản, cũng như Hàn Quốc, đều ảnh hưởng đậm đà của văn hoá, lối sống Khổng giáo và đi lên từ kinh tế tiểu nông. Vì vậy, sức trỗi dậy của hai nước bạn ấy đủ để động viên chúng ta tin tưởng vào sức mạnh của ý chí tự thân trong hiện tại và tương lai. Ý chí ấy giúp chúng ta mạnh dạn sửa lại những sai lầm của quá khứ.

Chúng ta không phủ nhận những thành tựu của cha ông. Nhưng nhất quyết không nên dựa vào những điểm không đủ sức đỡ để làm đòn bẩy tinh thần trong hiện tại.

Thế kỷ 20, những người mệnh danh là cộng sản đã dẫn dắt dân tộc đi qua nhiều sai lầm lớn không thể tha thứ. Tiếp nối của ngàn năm phong kiến là thời Pháp thuộc, rồi chiến tranh liên miên, rồi chính sách ngu dân thời bình, Đảng cộng sản đã dìm đất nước trong nước mắt, máu, và tăm tối. Vì lẽ đó, suốt thế kỷ 20 chúng ta cũng không có được một cơ hội canh tân nào.

Ước mơ hưng thịnh đất nước, sửa sai quá khứ phải thường trực trong mỗi người dân Việt. Đặc biệt là ở tầng lớp thanh niên, trí thức, doanh nhân. Phải biến nó thành nỗi niềm đau đáu, thúc giục con người bắt tay vào hành động vì một ngày mai tươi sáng cho tiền đồ dân tộc.

Nhưng, mọi lời kêu gọi canh tân, hưng khởi đất nước sẽ chỉ là vô nghĩa, trước sự trơ lỳ độc đoán của lãnh đạo ĐCS Việt Nam.

Nếu làm một phép phản chiếu giữa nền văn hoá Việt Nam hiện nay với các nền văn hoá tiên tiến trên thế giới, ai cũng thấy ngay được sự cai trị bao năm qua của Đảng cộng sản, với những sai lầm tội lỗi đối với nền văn hoá, đã biến nền văn hoá Việt Nam trở nên què quặt, thiếu sức sống. Dân chúng bạc nhược về tinh thần, đặc biệt là ý thức chính trị. Nhân cách, phẩm giá con người bị quyền lực chà đạp. Kinh tế thì nghèo nàn, lạc hậu thuộc loại nhất thế giới. Người dân Việt, nói chung, đi đâu cũng phải cúi đầu vì nỗi nhục của đói nghèo. Dân phải sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Lybia,… theo con đường xuất khẩu lao động để kiếm miếng ăn bằng đủ các nghề từ thợ mộc, thợ gò hàn,… đến móc cống, dọn nhà vệ sinh, bốc mả và cả ăn trộm, buôn lậu. Nhưng sỉ nhục thay, ngoại tệ thu được từ con đường xuất khẩu lao động lại là một trong những khoản đóng góp lớn nhất cho ngân quỹ nhà nước ! Vì sao dân chúng lại phải chịu đói khổ, nhục nhã như thế này ?!…

Để có được tự do phát triển chúng ta không thể ngồi chờ bất cứ một ân huệ nào mà phải chủ động đấu tranh không mệt mỏi cho quyền lợi của chính mình và của cộng đồng. Đã đến lúc, quần chúng phải quyết tâm bứt phá ra khỏi mọi sự sợ hãi cá nhân và mọi o ép của chính quyền. Khi hàng nghìn người thức tỉnh đoàn kết lại sẽ đủ sức động viên đồng bào làm một trận cuồng phong cuốn trôi đi bộ máy độc tài, xây dựng một kỷ nguyên mới cho Việt Nam.

Lịch sử cha ông đã gửi gắm lại cho con cháu ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm, Nhưng lại không dể lại chút kinh nghiệm nào trong việc chống cường quyền. Chúng ta hãy biến "ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm" thành "ý chí quật cường chống lại những thối nát, bạo tàn của chế độ cầm quyền".

Không thể nào khác được, mục tiêu canh tân đất nước phải được dẫn dắt bởi những người đứng đầu có trình độ và có đầu óc cải cách, dựa trên nền tảng một xã hội dân chủ tiến bộ.

Trong bối cảnh lịch sử hiện nay của nhân loại, lực lượng quyết định vị thế của một quốc gia trên thế giới là nền khoa học và kinh tế tri thức. Không có lý do gì để Đảng cộng sản với tư cách là đảng của giai cấp vô sản lại được phép nắm giữ chính quyền, dẫn dắt dân tộc, kéo lùi bánh xe lịch sử, cản trở những bước tiến lớn.

Những người dân Việt Nam nhiệt tình và tâm huyết, hãy đoàn kết tạo nên một sức mạnh mới để nỗ lực chấn hưng đất nước.

Trần Hoàng Lê
Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam

Thường Vụ TU/Đảng DCND
Việt Nam 6/2003

----- O -----


Nhà đối lập Việt Nam, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn bị tuyên án nặng nề



(Ông Trần Hoàng Lê trả lời phỏng vấn báo Digital Freedom Network)
Shravanti Redy, Digital Freedom Network


(Ngày 19 tháng 6 năm 2003) - Nhà đối lập Việt Nam, Phạm Hồng Sơn, bác sĩ Y khoa với văn bằng Cao Học Quản Trị Kinh Doanh vừa bị tuyên án 13 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế tại gia trong phiên toà kéo dài ít hơn nữa ngày tại Tòa án Nhân Dân Hà Nội.

Trong cuộc phỏng vấn với Digital Freedom Network, ông Trần Hoàng Lê, đồng sáng lập Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam cho biết: "tội gián điệp chỉ là một sự bịa đặt trắng trợn". "Bản án vừa rồi nằm ngoài sức tưởng tựơng của tất cả mọi người, tôi thực sự buồn và thất vọng".

Bị bắt ngày 27 tháng 3 năm 2002 chỉ vì tội đã dịch và chuyển gửi các bài viết trên mạng internet. Sơn đã bị giam tại trại giam B14, chính quyền không cho gặp mặt vợ và hai con từ đó đến nay. Phạm Hồng Sơn hoàn toàn phủ nhận các cáo buộc.

Theo tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, bản cáo trạng viết ngày 10 tháng 4 cáo buộc Sơn tội gián điệp, dựa theo điều 80 bộ luật Hình Sự vì "Sơn đã chủ động liên lạc qua điện thoại và email với những thành phần cơ hội phản động trong và ngoài nước". Các trao đổi qua email của Sơn đã bị cáo buộc đầy rẩy trong bản cáo trạng. Sơn bị vu cáo đã sử dụng email để "dịch và gửi các tài liệu chống đảng, chống nhà nước ra hải ngoại" và đã "nhận các email từ thành phần đối lập ở nước ngoài" để thảo luận về cách thức thay đổi chế độ hiện thời.
"Đây là những nhân vật mà nhà cầm quyền Hà Nội cho là thành phần phản động".

Ông Trần cho biết như vậy. Bên cạnh việc gán ghép Sơn tội đã viết bài phê bình, góp ý về chính sách chính trị và các nhân vật cao cấp trong Đảng. Sơn thực sự bị bắt vì đã dám dịch bài "Thế nào là Dân Chủ ?" đăng trên trang nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Sơn cũng bị cho là có tội vì đã viết bài "Những Dấu Hiệu Đáng Mừng Cho Nền Dân Chủ Việt Nam", một bài viết chỉ đơn thuần trình bày về các ý tướng dân chủ, tán thành một nền chính trị đa nguyên, dân chủ và đa đảng.

Trong bức thư ngỏ gửi ngày 30 tháng 5 năm 2003, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam đã minh thị là Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, điều 69 đã xác nhân công dân "quyền tự do diển đạt và phát biểu ý kiến". Việt Nam cũng đã cam kết thực thi Công Ứớc Quốc Tế về quyền Dân Sự và Chính Trị, trong đó đòi hỏi nhà cầm quyền không được tùy tiện bắt, giam giữ và phải tôn trọng quyền khác biệt chính kiến (quan điểm chính trị), cũng như quyền tự do ngôn luận của công dân.

Ông Trần Hoàng Lê cho biết, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam đã được thành lập hồi năm ngoái ngay tại Việt Nam. Mục đích của Ủy Ban là nổ lực để vận động tự do cho những tù nhân chính trị đang còn bị giam giữ như Sơn và nhiều người khác. Ủy Ban đã liên tục vận động, phản đối các vụ giam giữ tùy tiện và những bản án dành cho các nhân vật đối lập vì đã bày tỏ chính kiến qua phương tiện truyền thông điện tử. Trong đó có Lê Chí Quang, bị tuyên án 4 năm tù và Nguyễn Khắc Toàn bị 12 năm tù. Ông Trần tiết lộ, "Ủy Ban sẽ tiếp tục làm hết sức mình để vận động tự do cho những tù nhân chính trị tại Việt Nam".

Phiên Tòa:

Theo Trần Hoàng Lê: "phiên tòa không có công bằng", "ngày từ lúc bắt đầu vụ án cho đến nay, mọi chuyện luôn được tiến hành một cách dấu diếm". Ông Trần cho biết, phiên toà không có luật sư hiện diện vì Phạm Hồng Sơn đã quyết định tự bào chửa cho chính mình. Bà Vũ Thúy Hà, vơ của Sơn đã được mời tới phiên toà, nhưng với tư cách là nhân chứng, không phải là thân nhân của bị cáo. Bằng những thủ đoạn như vậy, Hà Nội ngăn chận bà Hà quyền được gặp mặt chồng. Truớc khi toà bắt đầu hỏi bà Hà về những cáo buộc, thì công an đã đưa ông Sơn ra khỏi phòng xử án. Kể từ lúc Phạm Hồng Sơn bị bắt đến nay đã hơn một năm, bà Hà đã bị nhà cầm quyền Hà Nội từ chối quyền gặp mặt thân nhân đang bị giam.

Mặc dù phiên toà đã không có những cuộc phản đối bên ngoài. Nhưng đã có nhiều người tụ tập trước cổng tòa gồm bạn bè và thân nhân của Sơn, các phóng viên nước ngoài và các quan chức ngoại giao thuộc văn phòng Đại sứ Hoa Kỳ, Úc và Canada. Theo ghi nhận của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới, công an đã bao vây khu vực bên ngoài tòa án, ngăn chận không cho phóng viên cũng như bất cứ ai vào tham dự. Nhiều nhân viên ngoại giao thuộc các quốc gia Bắc Mỹ, Úc và Âu Châu cũng đã bị từ chối dù trước đó họ đã chính thức gửi thư ghi danh đòi được tham dự phiên tòa.

Bản án đã làm nhiều người thất vọng. Thực tế cho thấy cần phải làm áp lực mãnh mẽ hơn nữa nếu muốn Phạm Hồng Sơn được trả tự do. Trần Hoàng Lê cho biết: "Mặc dù Sơn có thể kháng án, nhưng khó thay đổi kết quả bản án vì hệ thống tòa án của Việt Nam không dựa vào Hiến Pháp, Luật Pháp và nhều khi căn cứ vào quyết định của cá nhân cùng với những lý lẽ rất tùy tiện". Theo tin từ hảng thông tấn Reuter, Sơn có 15 ngày để làm đơn kháng án.

Vận Động Tự Do cho Bác sĩ Phạm Hồng Sơn:

Theo Trần Hoàng Lê, "trường hợp xử Sơn vừa rồi rất điển hình". Với hệ thống báo chí bị kiểm soát, "không một ai dám cất tiếng nói, tin tức thì bị kiểm duyệt, báo chí thì viết theo chỉ đạo của Đảng". "Tôi nghĩ thế giới cần phải gây áp lực mạnh mẽ hơn nữa" Trần cho biết, "Đã đến lúc cộng đồng thế giới và các quốc gia tự do nên xem lại vấn đề viện trợ cho Hà Nội, không thể mãi viện trợ để nuôi dưỡng chế độ độc tài đàn áp người dân".

Các tổ chức nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế, Hiệp Hội Nhân Quyền, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Gỉa, Hội Phóng Viên Không Biên Giới ... đều lên tiếng phản đối bản án vừa qua. Hội Phóng Viên không Biên Giới cho biết sẽ thông báo với các Tố chức quốc tế - trong đó có Việt Nam đang là hội viên - về những hành động đàn áp đối lập của Việt Nam. Tổ chức này cho biết sẽ vận động khối Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm 10 quốc gia có cùng chung mục đích là hợp tác đem lại hoà bình và thịnh vượng chung cho khu vực. Theo tin Reuter, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố qua bản thông cáo tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội "Hoa Kỳ cực lực phản đối Hà Nội đã tuyên án nặng nề đối với Phạm Hồng Sơn chỉ vì tội đã dám bày tỏ quan điểm qua hệ thống mạng internet". Dù vậy, theo tin Reuter, bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố "Nhà nước Việt Nam hoàn toàn yểm trợ tính quảng bá của liên mạng".

Điều lý thú là, theo Trần Hoàng Lê, ai cũng biết rằng Phạm Hồng Sơn bị án tù vì đã dịch bài "Thế Nào Là Dân Chủ ?" trên trang nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, thế nhưng bản cáo trạng buộc tội Sơn thì không có một chử nào đá động đến vấn đề này. Ông Trần cho biết "Tôi cứ tự hỏi là liệu Hà Nội có bị áp lực từ phía Hoa Kỳ về vấn đề này không". Theo Trần, sự kiện Hà Nội tuyên án nặng nề vừa qua đã làm cho người dân Việt Nam càng ngày càng nhận thức ra được mặt trái của chế độ. Đó là nhà nước Cộng Sản Việt Nam chỉ giỏi cai trị bằng lừa dối. Bản án đối với Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang và Nguyễn Khắc Toàn đã làm "quần chúng cảm thấy rất xấu hổ và bị xúc phạm nặng nề".

Trong một bức thư ngỏ viết ngày 30 tháng 5 năm 2003 gửi ra hải ngoại, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Chính Trị tại Việt Nam viết "chúng tôi cảm thấy xấu hổ làm công dân một nước mà hàng chữ - Cộng Hoà Xả Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Độc Lập - Tự Do- Hạnh Phúc được viết hoa trên mỗi tờ đơn, nhưng Nhà nước lại hoàn toàn làm ngược lại những gì đã viết" .

"Tôi vẫn luôn vững tin là một khi quần chúng vượt qua được nổi sợ hải bạo quyền, họ sẽ nổi dậy". Trần Hoàng Lê còn cho biết "Cũng đã đến lúc chúng ta cần phải có hành động cụ thể hơn là chỉ phản đối suông thì mới mong chấm dứt tình trạng đàn áp như hiện nay".

Nam Trần (lược dịch)
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

-----------------------------------


 
Về Nhân Vật Số 2 Trong Tổng Cục 2

Thuận An - Đảng viên ĐDCND

Qua một loạt sự kiện bi tố cáo khắp nước. Tổng Cục 2 (TC2) hiện đang lo củng cố nội bộ. Sau khi lá thư của Tướng Nam Khánh tố cáo TC2 lộng quyền, dám giả mạo nhân vật tình báo ảo T4 để vu cáo một số cán bộ cao cấp Đảng nhằm “đảo chánh” nội bộ. TC2 vội giải thể Cục 15. Cục 15 là đứa con cưng của TC2 và là cục tình báo công nghệ, hiện Cục 15 đã sát nhập với Cục 16 tức Cục tình báo chiến lược lo về lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội thông qua các công ty kinh doanh bình phong ở trong và ngoài nước. Sau khi sát nhập xong, trong buổi họp giao ban Nguyễn chí Vịnh nói: "Những gì ông Nam Khánh nói tôi đã giải quyết xong rồi" đó là vào tháng 8/2004, thời điểm giải tán Cục 15.

Hiện nay, các cán bộ chủ chốt của C15 nắm giữ những vị trí lãnh đạo trong C16. Các bản tố cáo hầu hết nêu đích danh nhân vật số 1 của TC2 là Nguyễn Chí Vinh, tuy nhiên một nhân vật cũng ghê gớm không kém Vịnh, hiện giữ chức vụ Tổng cục phó là Phạm Ngọc Hùng, tức Hùng Tút, từ cục truong C15 nhảy lên giữ chức Tổng cục phó Tổng cục 2 năm 2002, nghiễm nhiên trở thành nhân vật số 2 trong TC2.

Năm 1997, Hùng Tút chỉ mang quân hàm thiếu tá, hiện nay đã có quân hàm thiếu tướng. Tất cả đều do Nguyễn Chí Vịnh nâng đỡ vì Hùng Tút là đàn em của Vịnh. Nguyễn Chí Vịnh rất thành công khi dựng nên những tay sai để phục vụ cho lợi ích cá nhân của Vịnh và gia đình. Đến giờ này, các sĩ quan an ninh trong TC2 vẫn chưa hiểu nổi tại sao cả một bộ máy chính trị từ Trung ương đảng đến điạ phương đã bị bố con Vũ Chính - Nguyễn Chí Vịnh thao túng. Từ Ban Tổ chức trung ương, nơi sắp xếp cán bộ đến Cục cán bộ thuộc Tổng cục chính trị đều bị Vịnh khống chế hoàn toàn.

Vì vậy, trong nội bộ Vịnh toàn quyền quyết định muốn thăng chức, đưa ai lên thì đưa, giữ chức vụ nào cũng được mà không cần xem xét tới năng lực công tác, tư cách đạo đức, trình độ nghiệp vụ va quá trình cống hiến. Hầu hết những vị trí chủ chốt hiện nay trong TC2 đều là anh em bè bạn, tay chân thân tín, gia đình của Vịnh nắm giữ, chủ yếu là thành phần xuất thân từ "bán cháo lòng" khi Vịnh và gia đình lúc còn hàn vi. Nhiều cán bộ an ninh đều có nhận xét TC2 chính là bộ máy gia đình trị.

Nếu không có Vịnh, Phạm Ngọc Hùng, nhân vật số 2 trong TC2, người giử chức Tong Cục phó thường trực hiện nay chỉ là Hùng Tút. Hùng là bạn thân của Vinh, sau khi học xong ở Học viên kỷ thuật quân sư, Hùng được điều về Viện khoa học công nghệ thuộc Bộ quốc phòng. Mặc dù học kỷ thuật, nhưng do học kém, lười suy nghĩ, không khả năng nghiên cứu, hàng ngày Hùng đến cơ quan chừng 1 hoặc 2 tiếng đồng hồ thì chuồn, nên có tên gọi là Hùng "tút".

Nếu còn ở học viện, có lẽ Hùng đã nghĩ hưu với hàm thiếu tá từ lâu. Tuy nhiên, khi thành lập Công ty Toseco, Vịnh đã kéo Hùng về và phong ngay chức phó giám đốc. Từ đó cặp bài trùng Vịnh –Hùng sát cánh bên nhau. Toseco chỉ là đơn vị bình phong, vỏ bọc bên ngoài để che đậy các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp. Nơi đây lại là cái nôi để những kẻ đã từng bán cháo lòng trước kia nhảy lên nắm các vị trí chủ chốt trong TC2. Năm 1997 chỉ mới là Thiếu tá, đến nay mang hàm Thiếu tướng, trung bình cứ 2 năm Hùng lên 1 sao. Trong đời quân ngũ, rất khó cho bất cứ ai được phong quân hàm vượt cấp, nhất là ở thời bình. Vậy mà trong TC2, ngoài Vịnh và Hùng thường xuyên được phong quân hàm vượt cấp, thì đám tay chân bộ hạ xuất thân cùng gốc "cháo lòng" với Vịnh, Hùng cũng được tăng vù vù. Hàng năm, TC2 vẫn nặn ra thành tích đánh lừa Bộ quốc phòng, lừa Trung ương để được thăng quân hàm tước thời hạn. Bản thân Vịnh, Hùng thường xuyên nặn ra thành tích để nhận các danh hiệu cao quí như Huân chương, danh hieu anh hùng cho bản thân. Đây là sự lừa dối ghê tởm nhất không có trong lịch sử Quân đội Việt Nam.

Khi còn ở Viện khoa học công nghệ, Hùng luôn luôn là người bị lép vế với bất kỳ ai, đi đâu cũng bị anh em coi thường do trình độ chuyên môn yếu. Nhưng ở TC2 thì khác, Hùng là người có công xây dựng và củng cố gia đình trị cho Vịnh. Toàn bộ các vị trí chủ chốt trong các ban phòng của các Cục, Viện đều do Hùng tham mưu cho Vịnh phê duyệt. Do vậy, rất nhiều người phải nịnh bợ Hùng để được thăng tiến.

Tội nghiệp nhất là những sĩ quan cao cấp, chuyền từ các quân khu, các quân chủng về, thông thường thì hơn Hùng từ 10 đến 15 tuổi. Dù có rất nhiều thành tích, những người này phải nịnh bợ Hùng để được nâng đở. Hiện nay số cán bộ cao cấp này đang ngồi chơi xơi nước rất nhiều vì không có việc để làm. Nghiêm trọng nhất là trong TC2 có các đơn vị kinh doanh bình phong ở trong và ngoài nước đều do Hùng dựng lên. Nhiều người bà con, thân nhân của Hùng từ dưới quê được kéo lên phong cho các chức danh giám đốc các công ty bình phong. Những công ty bình phong này thực chất là để TC2 lợi dụng các qũi mật của Bộ Quốc phòng cấp cho hoạt động tình báo. Nên nhớ rằng qũi cho hoạt động tình báo chiếm hơn một nữa toàn bộ qũi Quốc phòng. Do đó, mới thấy tại sao đất nước ta còn nghèo đến thế.

Ở Sàigon có công ty Teseco, công ty Hòa Bình (đã giải thể), công ty Cửu Long (đã giải thể), khách sạn Omil, khách sạn Hoàng Đế, khách sạn Hoàng Hà (vừa bị bắt vì tội chứa gái mãi dâm cao cấp có người mẫu tham gia, diễn viên điện ảnh nổi tiếng Yến Vy, Kim Tịnh). Riêng Hà nội có công ty Detetour, công ty này đã làm thất thoát nhà nước mấy trăm tỉ, phải giải thể và đổi thành công ty Natutour do bà Cave tay chân đắc lực của Hùng làm giám đốc. Ở khách sạn 14A Lý Nam Đế, không ai không biết bà giám đốc Quang từng làm Cave. Bà này có nhiều chiến tích đối với TC2, nếu so với Lã thị Kim Oanh thì bà này còn gấp tội cả nghìn lần do tham nhũng mà có. Sở trường của TC2 là dùng mỹ nhân kế. Người đàn bà này được TC2 dùng để có thể mua đứt những cán bộ cao cấp từ Tổng bí thư trở xuống, hiện nay bà ta là bồ ruột của Bộ trưởng bộ tài chánh Nguyễn sinh Hùng, nhờ đó, việc cấp vốn cho TC2 không mấy khó khăn. Ngoài bà Quang, bà giám đốc khách sạn Liêu Giai ở Hà Nội hiện là vợ ông Cục trưởng Cán bộ thuộc Tổng cục chính trị cũng không kém. Đây là nơi mà Hùng thường xuyên lui tới, quan hệ, bàn bạc các âm mưu, nhất là thời kỳ chuẩn bị thăng quân hàm. Vì là một Tổng cục, ngang Bộ nên viêc tăng quân hàm ở TC2 không có bị trở ngại, đó là cơ hội để Hùng nâng cao uy tín của mình với cấp dưới.

Năm 1997 khi TC2 thành lập C15, Hùng được đề bạt làm Cục trưởng. Trần quốc Minh, từ đội phó đội xe đề bạt làm Cục phó, Trần chiến Thắng từ phó phòng hành chính cũng đề bạt lên làm cục phó. Cấp Cục phó tương đương với thứ trưởng, có tiêu chuẩn xe con, hưởng mọi chế độ như cấp Thứ trưởng. Thời gian được tăng chức, Hùng, Thắng chỉ mới là thiếu tá, riêng Minh là đại úy. Sự đề bạt tuỳ tiện này gây bất bình trong nội bộ sâu sắc. Ai phản ứng bị điều chuyển công tác hoặc ép về hưu.

Cục 15 do Hùng phụ trách đã tiêu tốn của nhà nước không dưới 50 triệu USD, chủ yếu là tham nhũng, dung tiền mua chuộc cán bộ, hủ hoá, mỹ nhân kế và bỏ vào các tài khoản cá nhân hoặc người nhà của Hùng. Khi tướng Nguyễn Nam Khánh gửi lá thư thứ nhất tố cáo TC2, lúc này Hùng đã là Tổng cục phó. Hùng và Vịnh đã đối phó bằng cách giải tán ngay C15, sáp nhập vô C16, toàn bộ vị trí chủ chốt C15 qua thay C16. Như vậy cũng chỉ là bình mới rượu cũ để giảm bớt áp lực. Nếu còn C15 sẽ phải thanh tra thì tội của Nguyễn Chí Vịnh và Phạm Ngọc Hùng bị tử hình vẫn còn nhẹ so với những gì tham ô, tham nhũng được.

Mặc dù tham nhũng, vô tài như vậy, Hùng vẫn lên như diều. Hiện Hùng giử vị trí số 2 trong TC2, có thể thay thế Nguyễn Chí Vịnh để nắm giữ vi trị số 1. Trong thời gian tới, dự mưu là Nguyễn Chí Vịnh có thể được đề bạt lên làm thứ trưởng, vì vậy Hùng thay thế Vịnh là hợp lý nhất, từ số 2 lên nắm số 1. Để đảm bảo không bị chống đối, mặt nội bộ Hùng thẳng tay xử lý cán bộ không tin cậy hoặc có biểu hiện phê phán nạn lộng quyền của Hùng và Vịnh.

Có khả năng sau Đại hội X, Vịnh được thăng cấp thượng tướng, Hùng lên trung tướng. Với số tiền khổng lồ có được từ tham nhũng, với TC2 nằm trong tay Hùng và Vịnh đã khuynh đảo, nắm gáy hầu hết cán bộ lãnh đạo cao cấp ở trung ương qua sở trường của TC2 là dùng mỹ nhân kế, đút lót kế, tham nhũng kế, đe dọa kế để vô hiệu hoá sự chống đối từ Trung ương và bất kể từ đâu.

Trong khi đại đa số dân còn không có nhà ở, Hùng sở hữu 4 căn nhà khang trang ở ngay Hà Nội, chưa kể các tài sản khổng lồ khác. Bà con gia đình Hùng đều giữ các chức vụ béo bở trong các công ty bình phong của TC2 để mặc sứt vơ vét, tham nhũng và thủ đắc các tài sản của nhân dân.

Trong TC2 còn có nhiều nhân vật tệ hại, cùng bè cùng cánh với Vịnh và Hùng. Lần lượt Đảng DCND sẽ vạch mặt toàn bộ vây cánh của Nguyễn Chí Vịnh và Phạm Ngọc Hùng để nhân dân rõ mặt trái của những kẻ giữ vị trí lãnh đạo trong Tổng cục 2.


----------------------------

Archives

June 2005   July 2005   August 2005  

This page is powered by Blogger. Isn't yours?